Giới thiệu

Lịch sử bảo tàng

Từ những năm cuối thế kỷ XIX, việc thu thập những tác phẩm điêu khắc Chăm bắt đầu được thực hiện bởi những người Pháp yêu ngành khảo cổ học, đặc biệt là các nhà nghiên cứu làm việc cho Trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp (L' École Francais d' Éxtrême - Orient, viết tắt là EFEO) và những đồng nghiệp Việt Nam. Sang đầu thế kỷ XX, một số hiện vật điêu khắc Chăm đã được chuyển đi Pháp, một số khác được chuyển ra Bảo tàng tại Hà Nội và Bảo tàng tại Sài Gòn, nhưng phần nhiều những tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng.

Ý tưởng về xây dựng ở Đà Nẵng một nhà bảo tàng cho các tác phẩm điêu khắc Chăm đã manh nha từ năm 1902 với một đề án của Khoa Khảo cổ của EFEO. Quá trình xây dựng đề án và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng góp lớn của Henri Parmentier (1871 - 1949), chuyên gia khảo cổ của EFEO, một trong những người tiên phong có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm. Tòa nhà đầu tiên của Bảo tàng Điêu khắc Chăm được khởi công xây dựng vào năm 1915, hoàn thành trong năm 1916 và chính thức mở cửa đón khách tham quan vào đầu năm 1919.

Dựa trên các ý tưởng thiết kế của các kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair cùng sự góp ý của H. Parmentier, toà nhà bảo tàng là sự kết hợp các đồ án trang trí đặc trưng của đền tháp Chăm với các nguyên tắc truyền thống của kiến trúc Pháp đầu thế kỷ XX, tạo nên một công trình tương thích với việc trưng bày các tác phẩm điêu khắc Chăm.Trải qua hai lần mở rộng vào những năm 1936 và 2002, cho đến nay, Bảo tàng Điêu khắc Chăm vẫn bảo lưu được phong cách kiến trúc cổ kính, duyên dáng và không gian trưng bày thoáng đãng vốn có.

Lần mở rộng thứ nhất được tiến hành vào những năm đầu thập kỷ 1930, hoàn thành vào năm 1936. Đó là việc xây dựng thêm hai phòng trưng bày hai bên, thẳng góc về phía trước của tòa nhà cũ, nhằm đủ không gian để trưng bày thêm những hiện vật mới được thu thập về trong những năm 1920, 1930. Theo ý tưởng của Henri Parmentier, hiện vật được phân loại để trưng bày theo nguồn gốc địa điểm nơi chúng được phát hiện hoặc khai quật. Cách bố trí không gian trưng bày này cơ bản vẫn được duy trì cho đến hiện nay.

Lần mở rộng thứ hai là việc xây thêm một toà nhà hai tầng ở phía sau khu nhà cũ, với diện tích sử dụng khoảng 2.000 m2 dành cho việc trưng bày và hơn 500 m2 dành làm kho, xưởng phục chế và phòng làm việc. Tại tầng 1 của khu nhà mới này hiện đang trưng bày những hiện vật trước đó còn để trong kho và một số hiện vật sưu tầm được sau năm 1975. Tầng 2 dành cho các trưng bày chuyên đề.

Trước năm 2007, Bảo tàng Điêu khắc Chăm là một bộ phận của cơ quan Bảo tàng Đà Nẵng. Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa - Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng. Năm 2011, Bảo tàng đã được xếp hạng 1 trong hệ thống các bảo tàng tại Việt Nam, khẳng định vai trò và những đóng góp của Bảo tàng Điêu khắc Chăm trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa.

Ngày nay, với hơn 400 tác phẩm hiện đang trưng bày tại các phòng và gần 2000 hiện vật đang lưu giữ trong kho, Bảo tàng Điêu khắc Chăm giới thiệu đến du khách bộ sưu tập đầy đủ và đặc sắc các hiện vật đại diện cho hầu hết các phong cách nghệ thuật điêu khắc đã hình thành trong lịch sử phát triển rực rỡ của vương quốc Champa. Các hiện vật bằng nhiều chất liệu khác nhau gồm sa thạch, đồng, đất nung được sắp xếp theo các phòng trưng bày và các bộ sưu tập mang tên địa điểm phát hiện hoặc khai quật như Trà Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng Dương, Tháp Mẫm,…Với chủ đề đa dạng từ các biểu tượng phồn thực đến những vị thần, con vật linh trong Ấn giáo và Phật giáo, các tác phẩm đã khẳng định những giá trị văn hóa bản địa độc đáo của cư dân Champa và sự tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố ngoại lai thể hiện qua bàn tay sáng tạo tài hoa của các nghệ nhân Chăm.

Đến với Bảo tàng Điêu khắc Chăm, du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng các bảo vật của quốc gia, các kiệt tác nghệ thuật trong không gian linh thiêng và cùng đón nhận những điều tốt đẹp, may mắn ẩn chứa trong hình tượng của từng tác phẩm.