Tư liệu

Du khảo Văn hóa Chăm ở Bình Thuận (phần 2)

Một tháp trong nhóm tháp Bắc tại cụm tháp Pô Dam

Rời đền thờ Pôklông - Mơh Nai, theo Quốc lộ 1A đi về hướng đông – bắc khoảng 30 ki-lô-mét, đến thôn Bình Hiếu, xã Phan Hiệp, huyện Bắc Bình sẽ gặp đền thờ vua Pô Nít, vua lên ngôi năm 1603, đến năm 1613 thì nhường ngôi cho em trai. Công trình được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Ngôi đền được xây theo kiểu kiến trúc đình, chùa người Việt chứ không phải kiểu tháp Chăm truyền thống, mái lợp ngói, trên nóc gian thờ chính trang trí hình “lưỡng long triều nhật”. Cửa chính của đền mở về hướng đông. Theo các nhà nghiên cứu, đền thờ vua Pô Nít là ngôi đền thờ Chăm đầu tiên được xây dựng theo kiểu này. Tượng vua Pô Nít ngồi trên bệ Yoni, lưng tựa vào phiến đá, được đặt ở gian thờ chính giữa, 2 bên thờ vị hoàng hậu người Chăm là Pô Mứk Chà và một hoàng hậu là con của Chúa Nguyễn; bên cạnh đó còn thờ một số tượng Kút của các hoàng thân. Năm 2000,  đền thờ Pô Nít được Bộ Văn hóa – Thông Tin xếp hạng di tích lịch sử - nghệ thuật cấp quốc gia.

Cũng tại huyện Bắc Bình, nếu muốn tìm hiểu nghề gốm truyền thống của người Chăm, chúng ta có thể đến thôn Bình Đức, phía sau chợ Lầu, cùng trên địa bàn xã Phan Hiệp. Người Chăm ở Bắc Bình gọi loại gốm được sản xuất ở Bình Đức là gốm Gọ (Gok: nồi). Đất sét được lấy từ vùng sông Quao là loại đất mịn và có độ dẻo cao. Người Chăm làm gốm truyền thống không có bàn xoay, đất sét sau khi nhồi được đặt lên một chiếc bàn gỗ nhỏ, người thợ dùng 2 tay vuốt và di chuyển xoay quanh sản phẩm, sau khi tạo dáng xong, sản phẩm sẽ được hong khô sau đó chất đống trên sân, xen kẻ gốm với củi và rơm sau đó nung lộ thiên. Khi lửa tàn, người ta dùng nước ngâm vỏ trái thị hoặc hạt điều vẩy lên sản phẩm tạo ra những vết lốm đốm nâu sẫm rất đẹp mắt. Ngày nay ngoài loại nồi, vò truyền thống, gốm Gọ còn có nhiều mẫu gốm mỹ nghệ đẹp để phục vụ khách du lịch.

Cũng tại huyện Bắc Bình, chúng ta có thể tham quan làng dệt Chăm và mua sản phẩm dệt thổ cẩm truyền thống tại 2 xã Phan Hòa và Phan Thanh. Người Chăm ở đây vẫn giữ được kỹ thuật bật bông kéo sợi, nhuộm sợi bằng chất liệu tự nhiên và dệt thổ cẩm bằng khung dệt thủ công, với các màu đen, đỏ, vàng, lục, người thợ dệt tạo ra các họa tiết đặc trưng của người Chăm rất đẹp mắt.

Nhóm tháp Nam của cụm tháp Pô Dam

Từ huyện Bắc Bình, theo quốc lộ 1A đi về hướng đông – bắc khoảng 40km đến huyện Tuy Phong, chúng ta sẽ thấy một hệ thống mấy chục chiếc quạt khổng lồ của nhà máy Phong điện đang quay để vận hành các tuabin phát điện. Đến ngã tư Liên Hương, theo con đường nhỏ rẽ về hướng tây khoảng 15 ki-lô-mét đến làng Lạc Trị, xã Phú Lạc, ta sẽ gặp một di tích tháp Chăm trên sườn đồi Ông Xiêm, gần đường tàu hỏa, đây là nhóm tháp thờ vua Pô Dam (Pô Tằm) – còn gọi là Pô Kathit (bàn La Trà Duyệt), trong thời gian trị vì vương quốc (1433-1460), vua Pô Dam đã cho làm hệ thống thủy lợi để phục vụ nông nghiệp ở vùng Tuy Phong-Bắc Bình. Nhóm tháp Pô Dam gồm có 6 ngôi tháp nhỏ, cao khoảng 7-8 mét, chia làm 2 cụm, hiện nay chỉ còn lại 3 tháp tương đối nguyên vẹn, còn 3 tháp khác đã bị sụp đổ. Theo các nhà nghiên cứu, căn cứ đồ án hoa văn thảo mộc xoắn xít và hình tượng Makara trên thân tháp C ở cụm tháp Bắc, loại hoa văn đặc trưng của phong cách Hòa Lai thì cụm tháp Bắc có niên đại khoảng thế kỷ VIII – IX, ở đây còn lưu giữ bệ thờ Linga-Yoni bằng sa thạch. Cụm tháp Nam gồm 3 tháp, có niên đại khoảng thế kỷ XV. Trong 6 ngôi tháp này, chỉ có tháp Nam có cửa chính mở về hướng đông như hầu hết tháp Chăm, còn lại cả 5 ngôi tháp kia đều mở cửa về hướng Nam.

Mặt sau nhóm tháp Nam cụm tháp Pô Dam

Hiện hậu duệ của vua còn lưu giữ 8 sắc phong do các vua triều Nguyễn phong tặng Vua Pô Dam. Hằng năm, vào khoảng tháng 4 theo lịch Chăm (khoảng tháng 7 dương lịch), tại tháp Pô Dam, người Chăm xã Phú Lạc và các vùng lân cận tổ chức lễ Yôr Yang cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu…Năm 1996, Di tích này đã được Bộ Văn Hóa – Thông Tin xếp hạng kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Nhiều di vật quý giá của nền văn hóa Champa được lưu giữ tại Bảo tàng Bình Thuận và Trung tâm trưng bày Văn hóa Chăm Bình Thuận (nằm ở huyện Bắc Bình), tại hai địa điểm này, các nhà nghiên cứu và du khách có thể tận mắt nhìn thấy những báu vật của hoàng gia Champa, những đồ dùng trong dân gian cùng những hình ảnh lễ hội, lao động sản xuất… của người Chăm, hiểu thêm về nền văn hóa đã một thời vang bóng trong lịch sử nước nhà.

Ngoài văn hóa Chăm, Bình Thuận còn nổi tiếng với các di tích Trường Dục Thanh tức Dục Thanh Học hiệu, được xây dựng gần sông Cà Ty, ngay trong thành phố Phan Thiết,là ngôi trường do các sĩ phu yêu nước tỉnh Bình Thuận sáng lập vào năm 1907 để hưởng ứng phong trào Duy Tân. Tại ngôi trường này, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã dừng chân dạy học một thời gian trước khi vào Sài Gòn để xuất ngoại tìm đường cứu nước.

Một danh thắng nổi tiếng ở Bình Thuận mà những người thích du lịch mạo hiểm thường nhắc đến, đó là Núi Tà Cú cao khoảng 650 mét so với mực nước biển, nằm ven Quốc lộ 1A, thuộc thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, cách Phan Thiết 28 Ki-lô-mét về phía Nam. Chung quanh có Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Cú với diện tích khoảng 11.886 héc-ta với hệ động vật khá phong phú, có một số loại nằm trong sách đỏ Việt Nam. Được xếp hạng là thắng cảnh cấp quốc gia năm 1993, núi Tà Cú đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng của nước ta.

Bình Thuận còn có đồi cát Mũi Né, nơi thu hút khách du lịch đến trượt cát và các nhà nhiếp ảnh săn tìm những khoảnh khắc đẹp của những dồi cát vàng nhấp nhô giữa trời xanh. Những bãi biển nước trong xanh biêng biếc như biển Rạng, Hòn Rơm, biển Kê Gà, biển Cổ Thạch… là nơi nghỉ dưỡng, tắm biển thích hợp trong mùa hè nóng bức.

Đến Bình Thuận, ngoài nước mắm Phan Thiết đã nổi tiếng từ lâu, các tín đồ ẩm thực không thể bỏ qua các món ăn đặc trưng như mực một nắng, bánh canh chả cá, gỏi cá Phan Thiết… Tất cả làm nên nét hấp dẫn của vùng đất duyên hải cực Nam Trung bộ đầy nắng và gió…

Bài và ảnh: Tịnh Hồ