Tư liệu

NHÌN LẠI NHỮNG DIỄN NGÔN VỀ BIA KÝ VÕ CẠNH (PHẦN 1)

Bia Võ Cạnh đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Ảnh: Sưu tầm)

Đổng Thành Danh

Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm Ninh Thuận

Bài đã đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng, số 1/2018

1. Mở đầu

Bia ký Võ Cạnh (ký hiệu B2.1 = C.40), tấm bia cổ nhất được tìm thấy ở Việt Nam, được phát hiện bên cạnh nền móng một công trình bằng gạch ở giữa hai làng Phú Văn (hoặc Phố Văn) và Phú Vinh, thuộc Tổng Xương Hà, Vĩnh Xương, Khánh Hòa (địa điểm này ngày nay là làng Võ Cạnh, xã Vĩnh Trung, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa). Tấm bia này được Viện Viễn Đông Bác cổ đưa về Hà Nội từ năm 1910 và hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Tấm bia có 4 mặt (trong đó có 3 mặt khắc chữ) cao khoảng 2,7m, rộng 0,72m, dài 0,67m, độ dày khoảng chừng 1,1m – 0,8m, tấm bia có 15 dòng chữ, mỗi dòng cao khoảng 4cm[1].  

Bia ký này được giới thiệu và dập bản lần đầu tiên bởi Aymonier[2], sau đó lần lượt được dịch và nghiên cứu bởi Abel Bergaigne, L. Finot, R. C. Majumdar, G. Coedes[3]… Ngay từ những nghiên cứu ban đầu này các học giả đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về niên đại, nguồn gốc, đặc điểm chữ viết và nhiều yếu tố khác liên quan đến bia ký này. Những quan điểm trao đổi và tranh luận học thuật liên quan đến văn bia này vẫn tiếp diễn sau này với những bài viết của J. Filliozat, Claude Jaques, W. Southworth và gần đây có bài viết đáng chú ý của Thông Thanh Khánh[4]… Những ý kiến, những quan điểm khác nhau, phủ định nhau của các học giả đã đưa văn bia Võ Cạnh vào những cuộc tranh luận đến nay vẫn chưa có hồi kết thúc.

Bài viết này nhìn lại những diễn ngôn tiêu biểu đề cập đến văn bia Võ Cạnh của các học giả quốc tế ngay từ những buổi đầu nghiên cứu cho đến gần đây. Cũng như những cuộc trao đổi và tranh luận trước đây của giới nghiên cứu về bia ký này, thảo luận về những vấn đề trong nghiên cứu học thuật liên quan tới bia ký này sẽ giúp chúng ta có những cái nhìn quan trọng đối với các lĩnh vực văn tự học, lịch sử, bối cảnh chính trị, xã hội…  của Champa trong bối cảnh không gian, thời gian xuất hiện và tồn tại của bia Võ Cạnh.

2. Những diễn ngôn về niên đại và văn tự học

 Thời điểm xuất hiện của văn bia Võ Cạnh là một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu tìm hiểu ngay từ khi bia ký này được phát hiện, dịch thuật và nghiên cứu. Niên đại của văn bia này thường được các học giả đánh giá dựa trên đặc điểm chữ viết có trên văn bia này. Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề này vẫn còn đặt ra nhiều tranh luận xoay quanh nguồn gốc ảnh hưởng của chữ viết trên cơ sở đó mà xác định tác giả và thời điểm mà văn bia này được viết ra. Cuộc tranh luận này bắt đầu bởi quan điểm của Bergaine, nhưng quan điểm này sau đó lại bị phê phán bởi Majumdar, rồi ngay lập tức sự phê phán này lại bị phê phán bởi K. A. N. Sastri. Cuộc tranh luận vẫn tiếp diễn sau đó bởi các nghiên cứu của Sircar, Coedes, Kalyan Kumar Sarkar, M.K. Bhattacharya…

Trước hết, Bergaine, như đã nói, là người đầu tiên thử dịch và nghiên cứu bước đầu về văn bia Võ Cạnh và xuất bản các công trình quan trọng liên quan đến văn bia này trong các năm 1888, 1893. Trong công trình về bia ký cổ Champa được xuất bản năm 1888, ông bước đầu đưa ra quan điểm rằng văn tự trên bia Võ Cạnh có nguồn gốc từ Nam Ấn (L’Inde du Sud) vì những ký tự này rất giống với ký tự Rudradama ở Girnar thuộc miền Nam Ấn Độ[5]. Năm 1893, Bergaine tiếp tục bổ sung quan điểm của mình về vấn đề này, theo ông, đặc trưng văn tự trên bia ký Võ Cạnh có nhiều nét tương đồng với văn tự Satakarni Vasisthiputra ở Kanheri và bia ký ở Godavari, tất cả đều ở phía Nam Ấn Độ và có niên đại trong khoảng thế kỷ II và III[6].

Ngay sau quan điểm của Begaine, trong một kỷ yếu được xuất bản năm 1896, G. Buhler đã phân tích một cách chi tiết và nguồn gốc cũng như sự phát triển của bia ký Võ Cạnh theo từng giai đoạn khác nhau. Theo Buhler, mặt A của bia Võ Cạnh dựa vào bia ký Rudradama ở Girnar có niên đại khoảng thế kỷ I, mặt B thì lại giống với bia Satavahanas ở Nasik và Vanheri có niên đại khoảng thế kỷ II và III, mặt C thì tương tự chữ của vương triều Iksvaku ở Amaravati vào khoảng thế kỷ III và cuối cùng mặt D thì mang dáng dấp các bia ký của vua Vijayabuddhavarman và Sivaskandavarman ở Tamil Nadu có niên đại khoảng thế kỷ thứ IV. Như vậy, theo Buhler, chữ viết trên minh văn Võ Cạnh có thể ảnh hưởng từ nhiều loại văn tự khác nhau trải qua nhiều thời kỳ khác nhau kéo dài từ thế kỷ I đến IV, tuy nhiên tất cả loại văn tự này đều thuộc truyền thống Brahmi tức Nam Ấn[7].  

Vấn đề này đã trở thành một cuộc tranh luận thật sự, sau đó, bởi những nghiên cứu mang tính phê phán của Majumdar trong một bài viết đăng trên tập san của Viện Viễn Đông Bác cổ năm 1932. Trong bài viết này, Majumdar cho rằng dạng ký tự trên bia Võ Cạnh rất giống với chữ viết của triều đại Kusana ở phía Bắc Ấn Độ (Nord de L’Inde) vào khoảng thế kỷ thứ III và IV[8], nhận định này của Majumdar đã đưa ra một diễn ngôn đối lập hoàn toàn về nguồn gốc chữ viết trên bia Võ Cạnh so với quan điểm của Bergaine đã được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình. Chính vì thế, quan điểm này ngay lập tức bị phê phán bởi những người ủng hộ Bergaine, một trong số đó là Sastri, trong một nghiên cứu năm 1935, ông đã bác bỏ quan điểm của Majumdar mà đưa ra nhận định rằng chữ viết trên bia Võ Cạnh tương tự loại chữ viết ở Girnar và Kanheri ở miền Nam Ấn Độ[9].

Cuộc thảo luận về niên đại và nguồn gốc chữ viết của văn bia Võ Cạnh tiếp tục gây cấn sau đó với những tranh luận của Dines Chandra Sirca và Coedes. Năm 1939, Sirca công bố một nghiên cứu về sự phát triển của văn tự Sanskrit ở Ấn Độ, trong đó ông có đề cập đến thời điểm xuất hiện của bia ký Võ Cạnh không thể vượt quá giai đoạn nữa đầu của thế kỷ thứ IV[10]. Ngay lập tức quan điểm của Sirca lại bị phê phán bởi Coedes, trong một bài viết xuất bản năm 1940, Coedes tỏ ra đồng thuận với quan điểm trước đó của Bergaine, ông chứng minh rằng văn tự ở Võ Cạnh tương đồng với chữ viết trên bia ký của Sodasa có niên đại khoảng thế kỷ I[11]. Quan điểm của Sircar sau đó tiếp tục nhận sự phản biện của K.K Sarkar, ông không đồng ý với niên đại quá xa của Sircar, mà ủng hộ quan điểm của Bergaine, cho rằng bia ký Võ Cạnh ra đời khoảng thế kỷ I và II[12].  

Cuộc thảo luận về vấn đề niên đại và nguồn gốc văn tự của bia ký Võ Cạnh tiếp tục sau đó với nghiên cứu mang tính tổng hợp, bổ sung và đồng tình với quan điểm của Bergaine và Buhler do K. Bhattacharya đưa ra vào năm 1961. Bhattacharya so sánh văn tự trên bia Võ Cạnh với văn khắc của triều Iksvaku ở Nagarjunakonda (Bắc Ấn) và kết luận niên đại của bia ký này thuộc thế kỷ III[13]. Vấn đề vẫn chưa dừng lại ở đó, khi sau đó không lâu tiếp tục xuất hiện một nghiên cứu với quan điểm khác biệt mới về bia ký Võ Cạnh của Ahmed Hasan Dani vào năm 1963, theo Dani văn tự trên bia Võ Cạnh lại giống với chữ Kashatrapas ở Gujarat và Malwa thuộc miền Tây Ấn Độ, vì vậy ông đề xuất niên đại cho bia ký này là khoảng thế kỷ IV – V[14]

 Như vậy, cho đến nay, cuộc tranh luận về niên đại và nguồn gốc chữ viết trên bia Võ Cạnh của các học giả vẫn chưa ngã ngũ. Điều duy nhất mà lúc này chúng ta có thể nói chính là niên đại của bia Võ Cạnh có thể tạm xác định khoảng thế kỷ I – IV, như vậy đây là minh văn cổ nhất được tìm thấy của Champa và có thể là của Đông Nam Á. Mặt khác, dạng thức văn tự trên bia ký này cho thấy một sự ảnh hưởng rõ nét các loại chữ viết của Ấn Độ, một dấu ấn cho thấy sự xâm nhập của nền văn minh Ấn Độ đã diễn ra từ rất sớm ở miền Trung Việt Nam. Nhưng khi đã tạm có một kết luận như vậy, thì một câu hỏi đặt ra là: Ai là chủ nhân của văn bia Võ Cạnh? Là người Ấn Độ hay cư dân bản địa tiếp thu truyền thống Ấn Độ? Câu hỏi này lại đưa học giới vào cuộc truy tìm lời giải từ trong chính nội dung của bia ký ấy.

(Còn tiếp)

Xem tiếp phần 2 tại đây


CHÚ GIẢI:

[1]    H. Parmentier, Inventaire archéologique de l'Indochine: II . Monuments chams de l'Annam, (Paris: EFEO, 1909), 111; L. Finot, “Notes d'épigraphie. XIV: Les inscriptions du Musée de Hanoi”, trong BEFEO, XV-2, 1915, 3; J. Filozart, “L'inscription dite ‘de Vo-canh’”, trong BEFEO, LV-1, 1969, 108; W. Southwouth, The Origins of Campā in Central Vietnam, A Preliminary Review, (London: SOAS, University of London, 2001), 190 – 191.

[2]    Dẫn theo: W. Southworth, sđd, 190.

[3]    A. Bergaine, “L'ancien royaume de Campa, dans l'Indo-Chine, d'après les inscriptions”, trong Journal Asiatique XI, 1888, 5-105; “Inscriptions sanskrites de Campa”, trong Notices et Extraits des Manuscrits de la Bibliothèque Nationale 27, Fascicule 2, 181-292; Finot, tlđd, 1 – 135; R. C. Majumdar, “La paléographie des inscriptions du Campa”, trong BEFEO, XXXII, 1932, 127-139; G. Coedes, “The date of the sanskrit inscription of Vo-canh”, trong The Indian Historical Quarterly,XVI-3, 1940, 484-488.

[4]    Filliozat, sđd, 107 - 116; C. Jaques, “Notes sur la stèle de Vo-canh”, trong BEFEO, LV-1, 117 – 124; W. Southworth, sđd, 2001;  Thông Thanh Khánh, “Từ Phù Nam đến Champa qua cái nhìn Phật giáo”, trong Nghiên cứu Văn hóa Chăm, (Hà Nội: Tri Thức, 2013), 58 – 65.

[5]    A. Bergaine, tlđd, 1888, 15.

[6]    A. Bergaine, tlđd, 1893, 191 – 198.

[7]    Dẫn theo: W. Southworth, sđd, 193.

[8]    R. C. Majumdar, sđd, 136 139.

[9]    K. A. N. Sastri, “L'origine de l'alphabet du Champa”, trong BEFEO,XXXV, 1935, 233-241.

[10]    D.C. Sircar, “The date of the Earliest Sanskrit Inscription of Campa”, trong The Indian Historical Quarterly.XVII, 1939, 55.

[11]    G. Coedes, sđd, 1940, 485 – 486.

[12]    K.K. Sarkar, “The Earliest Inscription of Indochina”, trong Sino-Indian Studies,V-2, 1956, 77-87.

[13]    M. K. Bhattacharya, “Précisions sur la paléographie de l’inscription dite de Vo Canh”, trong Artibus Asiae, XXIV, 1961, 219 – 224.

[14]    A. H. Dani, Indian Palaeography, (Oxford, 1963), 230 – 233.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bergaine. A. 1888. “L'ancien royaume de Campa, dans l'Indo-Chine, d'après les inscriptions”. Trong Journal Asiatique XI: 5-105.

2. Bergaine. A. 1893. “Inscriptions sanskrites de Campa”. Trong Notices et Extraits des Manuscrits de la Bibliothèque Nationale 27. Fascicule 2: 181-292.

3. Bhattacharya. M. K. 1961. “Précisions sur la paléographie de l’inscription dite de Vo Canh”. Trong Artibus Asiae. XXIV: 219 – 224.

4. Coedes. G. 1940. “The date of the sanskrit inscription of Vo-canh”. Trong The Indian Historical Quarterly.XVI-3: 484-488.

5. Coedes. G. 2011. Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông. Hà Nội: Thế giới.

6. Dani. A Hasan. 1960. Indian Palaeography. Oxford.

7. Finot. L. 1915. “Notes d'épigraphie. XIV: Les inscriptions du Musée de Hanoi”. Trong BEFEO. XV-2: 1-38.

8. Filliozat. J. 1969. “L'inscription dite ‘de Vo-canh’”. Trong BEFEO. LV-1: 107-116.

9. Hall. D. G. E. 1997. Lịch sử Đông Nam Á. Hà Nội: Chính trị Quốc gia.

10. Jacques. C. 1969. “Notes sur la stèle de Vo-canh”. Trong BEFEO. LV-1: 117-124.

11. Lương Ninh. 2006. Vương quốc Champa. Hà Nội: Đại học Quốc gia.

12. Lafont. P. B. 2011. Vương quốc Champa: địa dư, dân cư, lịch sử. San Jose: IOC – Champa.

13. Maspéro. G. 1928. Le Royaume de Champa. Paris: G. Van Oest.

14. Majumdar. R.C. 1932. “La paléographie des inscriptions du Campa”. Trong BEFEO. XXXII: 127-139.

15. Nhiều tác giả. 1988. Actes du séminaire sur le Campā, organisé à l’Université de Copenhague le 23 mai 1987. Paris: Travaux du centre d’histoire et civilisations de la péninsule indochinoise.

16. Parmentier. H. 1909. Inventaire archéologique de l'Indochine: II . Monuments chams de l'Annam. Paris: EFEO.

17. Po Dharma. 2012. Vương quốc Champa: lịch sử 33 năm cuối cùng, San Jose: IOC – Champa. 

18. Sastri. K.A. Nilakanta. 1935. “L'origine de l'alphabet du Champa”. Trong BEFEO.XXXV: 233-241.

19. Sircar. D.C. 1939. “The date of the Earliest Sanskrit Inscription of Campa”. Trong The Indian Historical Quarterly.XVII: 107-110

20. Sarkar. K. Kumar. 1956, “The Earliest Inscription of Indochina”. Trong Sino-Indian Studies.V-2: 77-87

21. Southworth. W. 2001. The Origins of Campā in Central Vietnam, A Preliminary Review. London: SOAS, University of London.

22. Steir. R. 1947. “Le Lin-Yi, sa localisation, sa contribution à la formation du Champa et ses liens avec la Chine”. Trong Han-Hiue. II-1-3: 1-135.

23. Taylor. Keith W. 1992. “The early kingdoms”. Trong The Cambridge History of Southeast Asia. N. Tarling edited. Vol 1: 137 – 182.

24. Thông Thanh Khánh. 2013. “Từ Phù Nam đến Champa qua cái nhìn Phật giáo”. Trong Nghiên cứu Văn hóa Chăm. Hà Nội: Tri Thức: 58 – 65.

25. Vickery. M. 2011. “Champa revised”. Trong The Cham of Vietnam: History, Society and Art. Singapore: NUS Press: 363 – 420.


BẢN PHIÊN ÂM PHẠN NGỮ, ANH NGỮ VÀ VIỆT NGỮ CỦA BIA KÝ VÕ CẠNH

Phiên âm Phạn ngữ:

(6)....prajānāni karu  a ...... (7) prathamavijaya.....

................ (8)...  ar    masyām /

ājñāpitām sadasi rājavarena .........

(9) .........rājaga  avāgas  tani pivantu //

śrīmārarājakulava~( 10)~–~—na śrīmāraloñ~—kulanandanena / ājñāpita svajana–sa~( 11)~—~madhye vākyain- prajahitakara   kar  orvvare  a //

lokasyāsya gatāgati vi (12) ..... na simhāsanādhyāsīnena putre bhrātari nāntyake sva– samlkara  achandrena (13) (t  )pte  u yatkiñcid rajatai  i suvar  nam api vā sasthāvarañ- ja  gamam kos  āgaraka ..... (14) na  priyahite sarvva   vis     ar   maya tad evani mayānuj-

ñāta   bhavisyair api (15) jabhir anumantavya   viditam astu ça me bh  ttyasya vīrasya....

... .prajanam karuṇa. .... .prathamavijaya. ....

....................narnmasyām /

ājñāpitām sadasi rājavareṇa. ........

........rājagaṇavāgasṛtam pivantu //

śrīmārarājakulava[rṇśavibhuṣaṇe]na śñmāralofkanṛpateh]2 kulanandanena / ājñāpitam svajana–sa~~–~madhye

vākyaṃ-prajahitakaraṃ karṃorvareṇa //

lokasyāsya gatāgati vi ..... na siṃhāsanāa7zyāsīnena putre bhrātari nāntyake svasamīkaraṇa-

chandrena (tṛ)pteṣuyatkṃicid rajataṃ suvarṇam api vāsasthāvarañja/igamaṃ kosṭāgaraka

.... naṃ priyahite sarvaṃ visṛṣṭaṃ mayā tad evaṃ mayānujñātaṃ bhavisya/r api jabhir anumantavyaṃ viditam astu ça me bhṛtyasya vīrasya‚...

Bản dịch Anh ngữ:

 (6) Mercy for the people ........ (7) First conquest ..................

(8) Ordered by the excellent king in the assembly, on the full-moon day (?)

(9) Let them drink the nectar of the words of kings.

(10-11) Royal family of Śrī Mara.......... He who is the delight of the family of Śrī Māra‚

and conversant with the ways of the world, being seated on the throne, said (the following) words, beneficial to the people, in the midst of his own kinsmen, (12) after having satisfied his sons, brothers and kinsmen (?) by enjoying wealth in common with them3. (13) “Whatever silver, gold, movable and immovable property and stores (of grain?) that I possess, (14) all that I consecrate to those who are dear and near to me. This is my commandment, and the future kings also should (15) approve of it. Be it known to my heroic servant (or: servant called Vīra).

Bản dịch Việt ngữ:

“Lòng từ bi dành cho chúng sinh ... chiến thắng đầu tiên ...Ngày Vọng – Trăng rằm đấng Quân vương vĩ đại trong các vị vương tuyên chỉ trong hội chúng rằng: “Hỡi [thần dân?] đã tưởng thưởng những lời vàng ngọc của đấng quân vương! Người ... thuộc về dòng tộc vua Çrï-Māra, đấng tôn quý của dòng tộc [vua] Çrï-Māra đã tuyên thuyết giữa chúng hội những lời vàng ngọc này cho chúng sinh, vì người, karih [करि** bàn tay mạnh trong hai bàn tay**?] (?) trong khi ngự trên ngai vàng, người [đã thấy rõ] cái thế gian vô thường này”:   

“Khi con trai và em trai ta, ngoài ra không còn ai khác6, thỏa mãn khát vọng sở hữu tài sản của họ...toàn bộ vàng bạc, châu báu, động sản và bất động sản, tất cả ta đã cung hiến vì sinh kế và phúc lạc của chúng sinh. Đây là chiếu chỉ của ta. Các vị vua sau này phải theo đó mà làm. Khá ngẫm lời ta, khanh Vira...”.

Nguồn:

Bản phiên âm Phạn ngữ, Anh ngữ:

Inscriptions of Campa by Karl-Heinz Golzio based on the editions and translations of Abel Bergaigne, Etienne Aymonier, Louis Finot, Edouard Huber and other French scholars and of the work of R. C. Majumdar.

ISCC, No. XX, p. 191-198; further commented by Louis Finot, BEFEO XV (1915), p. 3; Majumdar, pp. 1-3; Dines Chandra Sircar, “The date of the earliest Sanskrit inscription of Campa”, IHQ17 (1941), pp. 107-110. Claude Jacques, “Note sur la stèle de Vo-canh”, BEFEO LV (1969), pp. 117-124.

Bản dịch tiếng Việt: Do tác giả cung cấp.