Pho tượng Mã Chùa và hệ thống tượng Hộ pháp Chămpa (phần 1)

Ngày đăng: 10/09/2020

Tượng Hộ pháp Mã Chùa, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Bình Định. Ảnh: Hòa Bình

Năm 1992, người dân phát hiện một pho tượng đá tại gò Mã Chùa thuộc thôn Đại Hòa, xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn (trong khu vực thành Đồ Bàn xưa), tỉnh Bình Định. Sau đấy, đến năm 1999, pho tượng được đưa về bảo quản và được đưa ra trưng bày tại phòng chuyên đề Chămpa của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định ở thành phố Quy Nhơn. Qua hình dáng và tư thế dữ tợn của nhân vật, các nhà chuyên môn đã xác định pho tượng đá Mã Chùa là tượng thần Hộ pháp (Dvarapala).1 Vì ít nhiều có quan hệ và gắn bó về chuyên môn với Bảo tàng Bình Định trong nhiều năm, nên chúng tôi cũng đã biết đến pho tượng Mã Chùa ngay từ khi được tìm thấy. Thế nhưng, vì trong mấy chục năm gần đây, trên mảnh đất Bình Định, đã phát hiện được rất nhiều hiện vật cổ Chămpa, trong đó có không ít những tác phẩm điêu khắc đẹp và quý hiếm (bốn trong số đó là trán cửa Bình Nghi, trán cửa Dương Long và hai tượng Garuda Tháp Mắm (*) đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia), cho nên, mãi đến bây giờ, sau khi đã có những nghiên cứu về các tượng Hộ pháp của Phật viện Đồng Dương (Quảng Nam) cũng như hai pho Hộ pháp “khổng lồ” của Chùa Nhạn Sơn (Bình Định)2, chúng tôi mới để ý đến và nhận ra những nét rất riêng và sự đóng góp mới của pho tượng được phát hiện cách đây hơn hai chục năm tại Mã Chùa vào di sản tượng Hộ pháp của nghệ thuật điêu khắc cổ Chămpa. Đó cũng chính là lý do mà chúng tôi quyết định đi sâu tìm hiểu về pho tượng Hộ pháp Mã Chùa.

Cho đến nay, theo nhận định của các nhà nghiên cứu, lịch sử tượng Hộ pháp của Chămpa được bắt đầu từ những hình chạm khắc trên tường gạch, trong các ô cửa giả của ngôi tháp chính Hoà Lai có niên đại thuộc nửa đầu thế kỷ IX (đã từ lâu, ngôi tháp này đã bị đổ nát và chỉ còn phế tích nền móng - NVD). Từ đấy, qua các pho tượng đá sinh động và tuyệt đẹp của quần thể kiến trúc Phật giáo Đồng Dương cuối thế kỷ IX, rồi đến các pho tượng thế kỷ X, XI, XII ở Khương Mỹ, Trà Kiệu, Tháp Mắm,… và cuối cùng là các tượng ở chùa Nhạn Sơn, các tượng Hộ pháp Chămpa chỉ mặc trên người một chiếc quần đùi bó sát được thắt bởi một dây thắt lưng lớn có một đầu vắt ngang đùi ở phía trước và đầu kia chảy xuống phía sau làm thành trụ đỡ cho pho tượng, thân tượng có mang một chiếc dây có hình rắn Naga. Ngoài ra, như truyền thống, các tượng Hộ pháp Chămpa còn đeo trên cổ, trên cổ tay và bắp tay cũng như trên cổ chân những vòng trang trí khá lớn.

Các chạm khắc thần Hộ pháp ở tháp Hòa Lai (ảnh trái) và Chót Mạt (ảnh giữa và ảnh phải)

Tại ngôi đền trung tâm của Hòa Lai, khoảng trống giữa hai cột ốp của cửa giả là ô khám chứa tượng môn thần (Dvarapala) có tấm thân núng nính, ăn mặc diêm dúa và đang đứng trong tư thế đẩy lệch hông về một phía. Các hình môn thần chạm trên gạch trong các cửa giả của ngôi đền trung tâm ở Hòa Lai, theo các nhà nghiên cứu, có nhiều nét giống các tượng cùng loại của Campuchia thời kỳ tiền Angkor, như trên các mặt tường ngoài ngôi đền Chót Mót (tức tháp Chót Mạt thuộc xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh) thuộc phong cách Kompong Prah và của các đền miếu (chandi) của Indonesia, như Candi Blama trên cao nguyên Diêng. Kiểu đứng của các tượng môn thần này của khu vực được các nhà chuyên môn gọi là kiểu đứng vặn hông, còn kiểu cơ thể núng nính thì được đặt tên là kiểu cơ thể núng nính gợi cảm. Với các hình Dvarapala ở Hòa Lai, có thể nhận thấy rõ y và trang phục của các nhân vật nam nói chung và các tượng Hộ pháp nói riêng của phong cách Hòa Lai. Các Dvarapala ở Hòa Lai mặc một chiếc váy đàn ông (sampot) với thân trước lớn có nếp xếp xòe ra thành một chiếc túi lớn. Chiếc sampot được giữ bằng một chiếc thắt lưng vải hoặc một dây thắt mang nhiều đồ trang sức. Như các tượng của phong cách Mỹ Sơn E.1 trước đó, các Dvarapala Hòa Lai đều đeo trên người chiếc thắt lưng ở thân mình, hai chiếc kiềng và những vòng xuyến cao ở cổ, những vòng ở cổ tay và mắt cá chân, và chiếc vương miện kết hợp với đồ đội (mukuta) nhiều tầng theo kiểu của nghệ thuật Ấn Độ - Java thế kỷ VIII ở miền Trung đảo Java. 3

Sau các hình chạm trên gạch ở Hòa Lai, trong số các tượng Hộ pháp đã được biết, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, các tượng Hộ pháp của Phật viện Đồng Dương là những tác phẩm điêu khắc Hộ pháp hiện còn của Chămpa không chỉ còn khá nguyên vẹn và đầy đủ nhất, mà còn là những tượng Hộ pháp đẹp nhất của cả khu vực Đông Nam Á. Thế nhưng, hiện nay chỉ có ba pho tượng Đồng Dương là còn được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Đó là hai pho tượng còn nguyên vẹn nhất và đẹp nhất của thềm cửa II (tượng phía nam: cao 215 cm, rộng 143 cm và số đăng ký 9.11 - BTC 174 (**) và tượng phía bắc: cao 218 cm, rộng 136 cm và mang số đăng ký 9.12 – BTC 175 và pho tượng phía nam của thềm cửa III (số ký hiệu: 9.15 – BTC 279). Ngoài ra, Bảo tàng Nghệ thuật Châu Á Guimet ở Paris (Pháp) giữ một tượng (chỉ còn phần đầu và ngực) phía bắc của thềm cửa IV (cao 67 cm và mang ký hiệu: MA 3776). Và, cuối cùng, một sưu tập tư nhân của một người Mỹ giữ pho tượng phía bắc của thềm cửa I.

Nhóm tượng Hộ pháp tại phòng trưng bày Đồng Dương – Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng (theo thứ tự từ trái qua phải: BTC 174 – BTC 175 – BTC 279). Ảnh: Hòa Bình

Cũng là các Lokapala hay Dvarapala, nhưng, như các nhà nghiên cứu đã nhận thấy, rõ ràng, xét về mặt tạo hình, các tượng của Đồng Dương không hề giống với các Lokapala hay các Dvarapala ở Ấn Độ và Đông Nam Á cùng thời (cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X). Trong khi đó, như một vài nhà khoa học đã chỉ ra, các Dvarapala Đồng Dương lại rất gần với các tượng Lokapala của Trung Quốc. Vì vậy, để hiểu các Dvarapala của Đồng Dương, chúng tôi, trong công trình “Phật viện Đồng Dương - Một phong cách nghệ thuật Chămpa”, đã hướng sự chú ý của mình về nghệ thuật Đông Á. Và, theo nghiên cứu so sánh của chúng tôi, xét về loại hình và cách thức thể hiện, các tượng Đồng Dương, về cơ bản, giống với các Lokapala Trung Quốc thời nhà Đường (618 – 907). Qua đối chiếu so sánh, theo chúng tôi, về cách thức thể hiện, đặc biệt là việc đặt các tượng đứng trên những hình người và hình các con vật, các Dvarapala Đồng Dương, về cơ bản được tạc theo kiểu các Lokapala thời Đường của Trung Quốc. Xét về loại hình, có thể nhận thấy ở Đồng Dương có ít nhất là ba nhóm Lokapala: Nhóm 1 là các Lokapala giẫm chân lên một con quỷ hình người ở cặp Dvarapala của thềm cửa thứ nhất trong cùng, Nhóm 2 là các Lokapala giẫm chân lên hai con quỷ (một quỷ là con vật, một quỷ là người) ở cặp Dvarapala của thềm cửa thứ hai; và Nhóm 3 là các Lokapala giẫm chân lên một con quỷ hình con vật ở cặp Dvarapala của thềm cửa thứ ba. Theo suy đoán của chúng tôi, rất có thể, hai Lokapala cuối cùng của Đồng Dương, tức cặp Dvarapala của thềm cửa thứ tư ngoài cùng, là các Lokapala đứng một mình. Nếu đúng như vậy, thì ở Đồng Dương, đã có mặt đầy đủ các loại hình Lokapala như trong nghệ thuật Trung Quốc thời Đường. Do vậy, không còn nghi ngờ gì, các Dvarapala nổi tiếng của Đồng Dương chính là các Lokapala. Hơn thế nữa, hệ thống Lokapala ở Đồng Dương còn là hệ thống các Thiên Vương đầy đủ nhất và cũng là duy nhất trong nghệ thuật Phật giáo Chămpa nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung. Thế nhưng, tất cả các tượng ở Đồng Dương, đều được thể hiện giống nhau trong tư thế giận dữ (Krodna), đều khoác trên người những bộ y và trang phục gồm một sampot với lớp vải có túi mà nếp xếp được diễn đạt một cách khác nhau, một bộ trang sức hình rắn đặc trưng: Naga-kundala (khuyên rắn đeo tai), Naga-keyura (vòng rắn đeo bắp tay), Naga-kankana (vòng rắn đeo cổ tay), Naga-katibandha (vòng rắn đeo thắt lưng), Naga-padavalaya (vòng rắn đeo cổ chân) và Naga- yajnopavita hay Naga-upavita (chiếc dây Bàlamôn hình rắn vặt trên người), đều đội một bộ đồ đội Kirita-mukuta hai tầng được trang trí bằng các chét hoa lớn, bàn tay không cầm vũ khí (trừ hai tượng của thềm cửa I) đều cùng làm động tác Vitarka mudra với ngón trỏ và ngón cái nối nhau, ngón thứ tư gập lại, ngón thứ ba và ngón út duỗi thẳng... Và, thật đặc biệt, chính những “tiêu chí” đã được hình thành ở Đồng Dương đã trở thành khuôn mẫu cho hầu như tất cả các tượng Hộ pháp của Chămpa trong các giai đoạn và phong cách tiếp theo.4

Các tượng Hộ pháp Khương Mỹ, số kiểm kê BTC 80 và BTC 94. Ảnh: Hòa Bình


Xét về niên đại và phong cách, tiếp nối sau các tượng Hộ pháp Đồng Dương, là ba tượng Dvarapala có xuất xứ từ khu đền tháp Khương Mỹ (thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) mà các nhà nghiên cứu xếp vào phong cách Trà Kiệu thế kỷ X (giai đoạn chính của phong cách Mỹ Sơn A.1). Mặc dù được chế tác tồi, tư thế của các tác phẩm Khương Mỹ có tư thế giống của các Dvarapala Đồng Dương, nhưng mềm mại hơn và, do đó, cũng kém hùng dũng hơn. Như vậy là, như các nhà nghiên cứu đã nhận thấy, rất khác với những Dvarapala của Khơme bao giờ cũng tĩnh tại, tư thế chiến đấu với các động tác hung dữ là di sản của các Dvarapala Chămpa bắt đầu từ Đồng Dương, vì những Dvarapala Hòa Lai, những Dvarapala xưa nhất của Chămpa, lại đứng với hai chân dạng ra, tay chống nạnh và không có một cử chỉ mang tính đe dọa nào. Những Dvarapala Khương Mỹ có vẻ trông “khủng khiếp” với đôi mắt tròn và tròng giô ra, môi trên quăn lại để hở bộ răng và các răng nanh, vẫn giữ bộ ria ở đầu mút cong lên như của Đồng Dương. Y phục là chiếc quần sampot của phong cách Khương Mỹ, với nếp xếp nhỏ có túi đính lên bắp vế bên phải (hoặc trái ở pho tượng đối xứng) và thân dài giữa có mép bẻ lại thòng xuống tận bệ. Chiếc thân giữa cũng có ở mặt sau và cả hai thân dùng làm trụ chống cho bức tượng. Đồ trang sức khá hạn chế, chỉ có một đoạn đeo gươm – naga, những vòng đeo tai hình thoi hay những đĩa căng các dái tai, một bộ đồ đội (kirita-mukuta) có năm chét hoa xen kẽ. Hai trong số các tượng Dvaralapa của Khương Mỹ được tạc thành một cặp trong một động tác cân xứng. Một trong hai pho tượng Dvarapala cân xứng của Khương Mỹ hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng cao 1,16 mét (số đăng ký bảo tàng: 9.4 – BTC 80; pho tượng kia có số đăng ký là 9.5 – BTC 94) (***) có gương mặt dữ tợn, mắt lồi, miệng nhe răng nanh, đầu đội vương miện có đính năm chét hoa hình lá đề, tai đeo đôi khuyên hình hoa to có vẻ nặng nề, một dây bàlamôn có chạm đầu rắn naga được quàng chéo trên vai. Tất cả những nét trên đều là những đặc điểm của phong cách điêu khắc Dvarapala Đồng Dương. Tượng Khương Mỹ có tư thế đứng oai vệ, một chân nhón về phía trước, tay phải vung đoản kiếm, tay trái đặt lên đùi. Thân thể để trần, bên dưới khoác một sampot ngắn đến đầu gối, thắt lưng buông thành một vạt lớn ở phía trước dài chấm đất.5

Tượng Hộ pháp Trà Kiệu (BTC 107 và BTC 106). Ảnh: Hòa Bình

Ngoài các pho tượng Khương Mỹ, tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, cũng đang giữ và trưng bày hai pho tượng Hộ pháp thuộc phong cách Trà Kiệu có xuất xứ từ khu di tích Trà Kiệu (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Cả hai tượng đều rất lớn (riêng phần thân mình còn lại, trừ phần chân đã mất, thần Nhân từ cao 1,26 mét, thần Hung dữ cao 1,20 mét) và được thể hiện với nhiều nét tương đồng thành một cặp “Hộ pháp nhân từ” và “Hộ pháp hung dữ” (ký hiệu: 3.1 – BTC 106 và 3.2 – BTC 107). Vì có những nét khác, như trên đồ đội của tượng Nhân từ, có cái đĩa hình trăng lưỡi liềm,… nên hai pho tượng này của Trà Kiệu đã từng được coi là tượng Siva. Theo các nhà nghiên cứu, tuy hai nhân vật hiền từ và hung dữ được thể hiện với dáng vẻ trầm tĩnh và trong sáng của phong cách điêu khắc Trà Kiệu (thế kỷ X), nhưng ở cả hai bức tượng Trà Kiệu, vẫn còn mang những yếu tố dành riêng cho các thần Hộ pháp, như những vòng đeo tai và dải Bàlamôn hình rắn Naga. Riêng tượng Hung dữ còn có đôi mắt lớn với tròng nhô ra, bộ lông mày dựng lên dữ tợn từ cuống mũi tới hai thái dương, mũi rất rộng, miệng có môi trên hơi dày, bộ ria nhỏ quăn lên như răng nanh, mái tóc có nhiều vòng quăn của các nhân vật dữ tợn và mang một thanh đoản kiếm cài dưới thắt lưng. Mặc dầu vậy, theo chúng tôi, không rõ vì những lý do gì, mà những tượng Trà Kiệu lại kết thành một cặp “ông thiện” và “ông ác” khác với truyền thống chung phổ biến của tượng Hộ pháp Chămpa từ Đồng Dương trở đi là các cặp Dvarapala “hung dữ”.6 Và, không đợi lâu, sang giai đoạn kế tiếp của phong cách Mỹ Sơn A.1 (phong cách Chánh Lộ thế kỷ XI), các tượng Dvarapala Chămpa lại quay ngay về với những khuôn thức tượng hung dữ trong tư thế chiến đấu được khởi nguồn và hình thành từ phong cách Đồng Dương. Đó là ba tượng Dvarapala được phát hiện ở Thu Bồn.

Nhóm tượng phát hiện tại Thu Bồn, có thể thấy một tượng Dvarapala ở phía phải ảnh. Nguồn ảnh: Henri Parmentier, Inventaire descriptif des monuments čams de l'Annam Tome Premier, trang 286, hình 58

Ngay sau khi được phát hiện vào cuối năm 1903 tại làng Thu Bồn, tổng Mậu Hòa Trung, huyện Duy Xuyên (nay thuộc tỉnh Quảng Nam), H. Parmentier đã nhấn mạnh tới những điều thú vị của ba pho tượng Dvarapala này. Theo ông, một trong ba tượng, pho lớn nhất “nằm trong cùng một tư thế như những Dvarapala Khương Mỹ”. 7 Điều này đã được J. Boisselier lưu ý đến như một bằng chứng về sự tồn tại lâu dài của những truyền thống của phong cách Mỹ Sơn A.1. Thế nhưng, điều đặc biệt là, trong số ba pho tượng Dvarapala ở Thu Bồn, ngoài pho tượng lớn kiểu Khương Mỹ ra, thì hai pho tượng kia lại được thể hiện đứng thẳng (ở Khương Mỹ có một tượng Dvarapala cùng kiểu). Theo J. Boisselier, đây là phản ánh một sự cố gắng không có ngày mai để đổi kiểu dáng. Tuy vậy, ở các tượng Dvarapala đứng của Thu Bồn, những chiếc đầu đã được hoàn thành, theo đánh giá của J. Boisselier, lại thể hiện ý chí muốn trở lại truyền thống cổ điển của nhân vật hung tợn và chống lại sự cố gắng cầm chừng không đi quá ở các tượng Trà Kiệu. Tính dữ tợn của các Dvarapala Thu Bồn vẫn đươc thể hiện theo một công thức: răng giô ra và sắc nhọn, các răng nanh lớn cong lại của hàm trên, vương miện thấp với những chét hoa hình tam giác,…8

Tượng Dvarapala Khương Mỹ (ký hiệu BTC 287) với tư thế đứng thẳng. Ảnh: Hòa Bình

(Còn tiếp)

Ngô Văn Doanh

Bài viết đã được đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng – số 99, tháng 3/2016. BBT có bổ sung hình ảnh minh họa và một số chú thích.

Chú thích của tác giả

1. Bảo tàng Tổng hợp Bình Định, Sưu tập hiện vật lịch sử văn hóa Bình Định (tập ảnh), Quy Nhơn, 2004, tr.41, h.56.

2. Ngô Văn Doanh, Phật viện Đồng Dương – Một phong cách nghệ thuật Chămpa, Nxb. Văn hóa - Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh,2015, tr.85-94; Ngô Văn Doanh, Nghệ thuật Chămpa – Câu chuyện của những pho tượng cổ, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2014, tr.169-174.

3. J.Boisselier, La Statuaire du Champa. Recherches sur les Cultes et l’Iconographie, EFEO, Paris, 1963, tr.84-85, h.42,43. Về ngôi đền Chót Mạt, có thể tham khảo: H.Mauger, Travaux de Chót-mạt, BEFEO., XXXVIII, Chronique, p. 418 sqq., pl.CIV.

4. Về các Dvarapala Đồng Dương, có thể tham khảo: J.Boisselier, La Statuaire du Champa(sđd), tr.102-106.

5, 6. Về các Dvarapala Khương Mỹ và Trà Kiệu, xem: J.Boisselier, La Statuaire du Champa(sđd), tr. 183, 185-186.

7. H.Parmentier, Inventaire Descriptif des Monuments Cams de l’Annam, T.1, Paris, 1909, tr.286, 287, h.58.

8. J.Boisselier, La Statuaire du Champa (sđd) , tr.221. h.163


Chú thích của Ban biên tập Trang tin điện tử Bảo tàng

(*) Trong bài viết của mình, PGS.TS Ngô Văn Doanh đưa ra nhận định về địa danh nơi phát hiện các hiện vật trong bộ sưu tập hiện gọi là Tháp Mẫm tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, chính xác theo thực tế phải là Tháp Mắm. BBT để nguyên tên gọi này theo quan điểm tác giả. Có thể đọc thêm về ý kiến này ở tài liệu: Ngô Văn Doanh, Tượng cổ Champa – Những phát hiện gần đây, NXB Văn hóa – Văn nghệ, 2019, tr. 328.

(**) Bên cạnh hệ thống số kiểm kê đã từng sử dụng trước đây được tác giả sử dụng trong bài viết, BBT bổ sung thêm các số kiểm kê hiện vật hiện đang được áp dụng tại Bảo tàng - bắt đầu bằng ký hiệu BTC, giúp độc giả thuận tiện cho việc tìm hiểu, tra cứu.

(***) Hiện Bảo tàng đã trưng bày cả hai tượng Hộ pháp ở phòng trưng bày Quảng Nam - Bộ sưu tập Khương Mỹ.


Xem tiếp phần 2 tại đây: http://chammuseum.vn/view.aspx?ID=468



Tin cùng chuyên mục

 
 
Loading the player...
 
Đà Nẵng, Việt Nam

 
 
 
Giờ tham quan
Từ 7 giờ đến 17 giờ hàng ngày
Giá vé
60.000 đồng/người/01 lượt tham quan
Địa chỉ
số 02, đường 2 tháng 9, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam
 
Lượt truy cập: 127,639 Hôm qua: 353 - Hôm nay: 88 Tuần trước: 2,455 - Tuần này: 1,144 Tháng trước: 14,580 - Tháng này: 8,983 Đang trực tuyến: 10