Pho tượng Mã Chùa và hệ thống tượng Hộ pháp Chămpa (phần 2 và hết)

Ngày đăng: 15/09/2020

Từ đầu thế kỷ XI trở đi, trong đời sống chính trị, xã hội và văn hóa của Chămpa, đã xảy ra nhiều biến động và thay đổi lớn khiến trung tâm chính trị và tôn giáo của vương quốc đã phải chuyển từ Indrapura ở miền Bắc (Quảng Nam ngày nay), vào Vijaya ở miền Trung của vương quốc (Bình Định ngày nay). Từ đó, trong suốt gần năm thế kỷ, từ đầu thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV, Vijaya liên tục là kinh đô của nước Chămpa. Và, trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chămpa, cả một giai đoạn lớn: giai đoạn thứ hai và một phong cách lớn: phong cách Bình Định, đã hình thành và tồn tại. Tuy có nhiều thay đổi, nhưng nghệ thuật Chămpa vẫn là một dòng chảy liên tục từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ hai. Điều này cũng thấy rõ ở những tượng Hộ pháp được phát hiện tại Bình Định, mà cụ thể là tại di tích Tháp Mắm nổi tiếng.

Rất tiếc là, khi được phát hiện, những tượng Hộ pháp của Tháp Mắm đã bị vỡ thành quá nhiều mảnh vụn. Thế nhưng, trên cơ sở đối chiếu với các bức tượng lớn cùng loại còn khá nguyên vẹn đang được người Việt thờ phụng tại ngôi chùa Nhạn Tháp gần đó, các nhà chuyên môn đã phục nguyên lại được các tượng Hộ pháp Tháp Mắm. Những Dvarapala ở Tháp Mắm (hiện ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, số đăng ký: 9.13 – BTC 220), lớn hơn vật thật rất nhiều (chỉ phần đầu và thân mình còn lại đã cao 1,05 mét), đã được dựng lên trên một bệ tượng hầu như tròn được trang trí hai hàng cánh hoa sen đậu lại với nhau qua một băng giữa được trang trí mô típ hình vú. Phần trên của mỗi một bệ có một dòng chữ, rủi thay vẫn chưa được công bố. (*)

Hộ pháp (BTC 220) và phần chân tượng (BTC 433). Ảnh: Hòa Bình

Cũng như ở Nhạn Tháp, những Dvarapala ở Tháp Mắm đứng trên mặt đất, hai bàn chân dạng ra và có một trụ chống ở phía sau. Đó là một hệ thống cổ điển đối với tất cả những Dvarapala trong tư thế chiến đấu từ phong cách Đồng Dương. Hai bức tượng được tạc trong một động tác cân xứng, chân hơi xếp lại, đầu gối dạng ra, thân mình nghiêng về phía trước, cổ căng ra và đầu quay về phía đi vào của thánh đường. Các Dvarapala giơ lên một vũ khí ở độ ngang vai, tượng thì một chiếc dao găm ngắn, tượng thì một thanh kiếm rất nặng nề (hoặc một chiếc chùy) mà chỉ tay nắm còn được giữ lại mà thôi. Bàn tay kia được đưa lên trước ngực và một trong những Dvarapala cầm một chiếc khiên tròn được trang trí một mô típ phỏng theo một hoa sen nở. Vẫn gần như là động tác quen thuộc từ phong cách Đồng Dương, nhưng các bức tượng kém hung dữ hơn và dường như béo lùn hơn, mặc dù có một thân hình cao hơn nhiều. Vẻ mặt hung tợn của nhân vật đã ít nhiều biến đi trong ý chí cách điệu hóa về mặt trang trí, rất đặc biệt của phong cách Tháp Mắm, mà chỉ giữ lại của truyền thống ở đôi mắt giô ra ngoài tròng, mũi có hai lỗ phình ra, những đường gân cổ nổi lên, và những nét nhăn ở gốc mũi được tạc một cách thuần túy trang trí và cách điệu hóa. Tính trang trí đã làm cho đôi tai biến đi dưới một guột trôn ốc mà người ta không còn biết nó thuộc vương miện hay thuộc vành tai; đã tô điểm cho các bầu ngực, các xương bánh dày (**) được trang trí một hoa thị bằng hoa sen nở,… Rồi thì, chất trang trí cũng khiến cho vẻ mặt trở nên bình tĩnh lạ thường và chẳng còn có gì là hung dữ. Những trang trí Naga của các Dvarapala được tạc khá hiện thực, mặc dù chúng thường có nhiều đầu. Các hình Naga có mặt ở dải đeo gươm, những đồ trang trí căng các dái tai, những vòng đeo mắt cá.

Tượng Hộ pháp tại chùa Nhạn Sơn

Với kích thước cao tới 2,40 mét, hai pho tượng của chùa Nhạn Tháp (hay Nhạn Sơn) là hai pho tượng đá Dvarapala lớn nhất của nghệ thuật điêu khắc cổ Chămpa. Nhà nghiên cứu người Pháp J. Boisselier đã xếp các pho tượng Dvarapala chùa Nhạn Sơn vào phong cách nghệ thuật Tháp Mắm (thế kỷ XII - XIII). Ngoài ra, ông còn có nhận xét, chính với những Dvarapala Nhạn Sơn này, mà dường như kết thúc, ở nước Chămpa, một loạt tượng thú vị, trong đó, truyền thống đầu, được minh hoạ ở Hoà Lai trong các hình phù điêu, được trang bị những đặc điểm cốt yếu ngay từ phong cách Đồng Dương. Sở dĩ J. Boisselier xếp các pho tượng của Nhạn Sơn vào phong cách nghệ thuật Tháp Mắm là vì các tượng Hộ pháp của chùa Nhạn Sơn có nhiều nét phong cách rất gần với các tượng Hộ Pháp được tìm thấy ở khu di tích Tháp Mắm. Như các tượng của Tháp Mắm, hai Hộ pháp của Nhạn Sơn, mỗi tượng đều đứng trên một bệ tượng tròn được trang trí bằng hai hàng cánh sen đối xứng nhau qua một băng các núm vú chạy ở giữa (hiện còn nhìn thấy rõ ở pho tượng tô đỏ bên phải). Các Hộ pháp Nhạn Sơn và Tháp Mắm đứng chân trần trên đất, hai bàn chân dạng ra và có một trụ chống lớn ở phía sau (ở các tượng Nhạn Sơn, trụ chống được thể hiện như sự kéo dài phóng đại của dải dây thắt lưng phía sau). Đây là kiểu cổ điển đối với các tượng Hộ pháp Chămpa từ phong cách Đồng Dương. Hai bức tượng được tạc trong những động tác rất cân xứng với hai chân hơi chùng xuống và hai đầu gối dạng ra. Toàn bộ thân hình của tượng ngả về phía trước, cổ căng ra và đầu quay về phía trong chùa. Hai Hộ pháp đều cầm một vũ khí giơ lên ngang vai. Qua dấu tích chuôi còn lại rất giống của các tượng Tháp Mắm, có thể đoán, pho tượng tô đỏ bên phải cầm đoản kiếm, còn pho trượng tô đen bên trái cầm chuỳ. Như các tượng Tháp Mắm, hai Hộ pháp Nhạn Sơn, mỗi tượng đều đưa bàn tay không cầm vũ khí lên trước ngực. Và, cũng như các tượng Tháp Mắm, có thể nhận thấy chỉ một pho tượng của Nhạn Sơn (pho tô đỏ) là cầm một vật gì đó đã mất (có thể là chiếc khiên tròn như của tượng Tháp Mắm), còn tượng kia thì không cầm gì trong bàn tay.

Cặp tượng Hộ pháp tại chùa Nhạn Sơn. Ảnh: redsvn.net

Như của các tượng Hộ pháp cổ điển Đồng Dương, các tượng của Nhạn Sơn và Tháp Mắm vẫn biểu lộ sự dữ tợn của mình qua đôi mắt giô ra ngoài tròng, hai lỗ mũi phình ra và những đường gân cổ nổi lên. Thế nhưng, những chi tiết mang tính trang trí và phóng đại, như các đường viền của lông mày, lông mi, râu, ria mép, những nếp nhăn ở gốc mũi,… đã làm mất đi sự dữ tợn tự nhiên như vốn có ở các tượng Hộ pháp Đồng Dương và, vì thế, cũng đã khiến các tượng Hộ pháp ở Nhạn Sơn có dáng vẻ bình tĩnh hơn. Trên các tượng của Nhạn Sơn và Tháp Mắm, tính trang trí và phóng đại còn được thể hiện ở chỗ đôi tai bị che lấp bởi một hình xoáy trôn ốc lớn, các đầu vú và đầu gối được tô điểm bằng hình hoa tròn nhiều cánh. Hai tượng Hộ pháp chùa Nhạn Sơn cũng như các tượng của Tháp Mắm không đội một chiếc mũ cao được trang trí thành các tầng như các tượng Hoà Lai, Đồng Dương, Khương Mỹ và Mỹ Sơn mà tóc được búi lên thành một búi tròn lớn phía sau. Mỗi vị Hộ pháp ở Nhạn Sơn chỉ đội trên trán một vương miện được tạo bởi một dãy những hình cánh sen. 1

Như vậy là, từ rất sớm, ngay từ phong cách Hòa Lai cuối thế kỷ VIII – đầu thế kỷ IX, trong nghệ thuật Chămpa, đã xuất hiện những hình ảnh Dvarapala khắc chạm trên gạch tại ngôi đền trung tâm của Hòa Lai. Các Dvarapala Hòa Lai là những tượng thuộc truyền thống các Hộ pháp đứng thẳng của khu vực Đông Nam Á. Thế nhưng, ngay sau Hòa Lai, đến những thập niên cuối của thế kỷ IX, trong phong cách Đồng Dương, đã hình thành một kiểu tượng Hộ pháp mang những nét đặc trưng riêng của Chămpa: kiểu Hộ pháp dữ tợn trong tư thế chiến đấu. Truyền thống tượng Hộ pháp Đồng Dương đã trở thành dòng tượng Hộ pháp chủ yếu của Chămpa từ phong cách Đồng Dương nửa cuối thế kỷ IX cho đến hết phong cách nghệ thuật lớn cuối cùng là phong cách Bình Định (hay Tháp Mắm) vào cuối thế kỷ XIII. Chính dòng chủ lưu này đã để lại cho nền nghệ thuật Chămpa nhiều pho tượng thuộc loại đẹp nhất và độc đáo nhất không chỉ của nghệ thuật Chămpa, mà còn của cả truyền thống nghệ thuật tượng Hộ pháp của khu vực Đông Nam Á. Giờ đây, với phát hiện mới ở Mã Chùa, theo chúng tôi, nghệ thuật Chămpa có thêm một pho tượng Hộ pháp vừa khá đẹp và vừa khá đặc biệt nữa.


Khuôn mặt của các Hộ pháp Đồng Dương (Bảo tàng Guimet – Paris, Ảnh: pinterest.com), Mã Chùa (Bảo tàng Bình Định, Ảnh: Hòa Bình) và Tháp Mắm (Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Ảnh: Hòa Bình)

Cái riêng và cái khác dễ thấy nhất của Hộ pháp Mã Chùa là chất phù điêu chạm nổi của hình tượng, trong khi đó, tất cả các tượng Hộ pháp còn lại (các Hộ pháp “chiến đấu”) đều là tượng tròn. Mặc dầu vậy, về cơ bản, tư thế, động tác và khuôn mặt của tượng Mã Chùa là của truyền thống tượng Đồng Dương, đặc biệt là tư thế vững chãi của hai chân với chân phải gập chùng xuống và chân trái quỳ đầu gối sát đất; là động tác mạnh mẽ của hai tay cầm vũ khí với một tay đưa thẳng lên cao ngang đầu và một tay tỳ lên đầu gối rồi gập mạnh lại trước bụng; là khuôn mặt to dữ tợn với đôi mắt giô ra ngoài tròng, hai lỗ mũi phình ra, cặp răng nanh hàm trên chìa ra (bắt đầu xuất hiện và thấy rõ ở tượng Khương Mỹ và tượng Thu Bồn), đôi lông mày to uốn cong hai đầu,… Thế nhưng, ở tượng Mã Chùa, theo chúng tôi đã thấy xuất hiện một vài chi tiết đặc trưng của tượng Hộ pháp Tháp Mắm, như cặp lông mày và đôi hàng mi trên đã mất đi tính tự nhiên để thành những khối và nét như một hình trang trí. Mặc dầu vậy, nhìn chung, ở tượng Mã Chùa, chất trang trí vẫn còn gắn với và gần với hiện thực, chứ chưa thành cả một kiểu thức trang trí đậm đặc trên nhiều bộ phận và chi tiết cơ thể như ở các tượng Hộ pháp Tháp Mắm. Vì vậy, ở tượng Mã Chùa, có thể thấy khá rõ sự chuyển tiếp từ những truyền thống mạnh mẽ, sống động và tự nhiên của các Hộ pháp Đồng Dương sang tính trang trí, ngộ nghĩnh và nặng nề của các Hộ pháp Tháp Mắm. Theo chúng tôi, ngoài một số chi tiết mang tính trang trí, dù chưa thật rõ, còn có thể tìm thấy những chi tiết khác mang chất Tháp Mắm (phong cách nghệ thuật) được thể hiện đây đó trên pho tượng Hộ pháp Mã Chùa, đặc biệt là trên y và trang phục. 

Hộ Pháp Mã Chùa và vũ nữ Tháp Mắm (BTC 248). Ảnh: Hòa Bình

Tuy vẫn ăn mặc theo kiểu truyền thống của các Hộ pháp, nghĩa là chỉ mặc một chiếc quần ngắn (sampot) và chỉ mang đồ trang sức cùng sợi dây Bàlamôn trên thân mình, nhưng kiểu thức những đồ trang phục của tượng Mã Chùa đã là của phong cách Tháp Mắm rồi. Như các tượng của phong cách Tháp Mắm, ví dụ như các phù điêu thần Siva và những phù điêu vũ nữ của di tích Tháp Mắm (tất cả các tác phẩm điêu khắc này hiện ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng), thần Hộ pháp Mã Chùa mặc một chiếc sampot ngắn cuộn lên trên hai bắp đùi. Như của các thần Siva và các vũ nữ, chiếc sampot có một thân phía trước lớn, dài, hình tam giác nhọn đầu, bẻ cong lại thành hình dấu phẩy. 2 Và, thật đặc biệt, vị thần Hộ pháp Mã Chùa lại không là tượng tròn như truyền thống, mà lại được chạm khắc thành hình phù điêu nổi như các hình vũ nữ của Tháp Mắm.

Qua cách thể hiện, có thể nhận thấy, chắc chắn là pho tượng Hộ pháp của Mã Chùa hiện được biết được tạc trong tư thế và động tác đối xứng với một pho tượng nữa (đã không còn hoặc chưa phát hiện ra) để thành một cặp theo truyền thống của các tượng Hộ pháp. Dù rằng theo truyền thống, nhưng, rõ ràng là cách thể hiện đối xứng trên phù điêu của Hộ pháp Mã Chùa là gần với cách thức của các hình phù điêu vũ nữ Tháp Mắm. Ngoài ra, qua đối chiếu và so sánh với cặp phù điêu vũ nữ của Tháp Mắm cả về cách thức thể hiện và kích thước (các hình phù điêu Tháp Mắm cao 1,18 mét, tượng Mã Chùa cao 1,10 mét), chúng tôi cho rằng, các hình chạm nổi Hộ pháp của Mã Chùa (ít nhất là hai bức chạm khắc) được gắn ốp vào hai ô tường ở hai bên cửa ra vào (hoặc cửa giả) của một ngôi đền thờ xưa đã không còn (có thể tại chính khu vực Mã Chùa).

Như vậy là, qua nghiên cứu phân tích và đối chiếu so sánh, chúng tôi rút ra một số nhận xét dưới đây về pho tượng Hộ pháp Mã Chùa. Trước hết, về niên đại và phong cách, chúng tôi cho rằng pho tượng Hộ pháp được phát hiện vào năm 1992 ở Mã Chùa là pho tượng thuộc phong cách nghệ thuật điêu khắc Tháp Mắm và, vì vậy, có niên đại khoảng đầu thế kỷ XII. Sở dĩ chúng tôi định niên đại đầu thế kỷ XII cho tượng Mã Chùa là vì, như đã phân tích, tuy đã mang trong mình một số biểu hiện đặc trưng của phong cách Tháp Mắm, nhưng rõ ràng ở pho tượng Mã Chùa, một số yếu tố, đặc biệt là các chi tiết của khuôn mặt, vẫn còn gần với các tượng Hộ pháp của các phong cách trước, đặc biệt là của các phong cách Trà Kiệu và Chánh Lộ, chứ không giống của các tượng Hộ pháp ở Tháp Mắm. Do vậy, có thể khẳng định, tượng Mã Chùa là pho tượng Hộ pháp đầu tiên của nhóm tượng Hộ pháp thuộc phong cách nghệ thuật lớn Bình Định. Nhận xét thứ hai là về đặc điểm phù điêu của tượng Hộ pháp Mã Chùa. Theo chúng tôi, không còn nghi ngờ gì nữa, tượng Mã Chùa là một đóng góp mới về loại hình cho di sản tượng Hộ pháp của Chămpa: là tác phẩm phù điêu chạm nổi hình Hộ pháp đầu tiên của Chămpa mà cho đến nay chúng ta biết được. Vì vậy, tượng Hộ pháp Mã Chùa là một tác phẩm điêu khắc Hộ pháp không chỉ có những nét đẹp riêng, mà còn là tác phẩm phù điêu Hộ pháp duy nhất còn lại cho đến nay của nghệ thuật Chămpa.

Ngô Văn Doanh

Bài viết đã được đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng – số 99, tháng 3/2016. BBT có bổ sung hình ảnh minh họa và một số chú thích.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                

Chú thích của tác giả

1. Về các Dvarapala Tháp Mắm và Nhạn Tháp, có thể tham khảo: J.Boisselier, La Statuaire du Champa. Recherches sur les Cultes et l’Iconographie, EFEO, Paris, 1963, tr.289-271 và Ngô Văn Doanh, Nghệ thuật Chămpa – Câu chuyện của những pho tượng cổ, NXB. Thế giới, Hà Nội, 2014, tr.169-174.

2. Về các tượng phong cách Tháp Mắm, có thể tham khảo: J.Boisselier, La Statuaire du Champa(sđd), tr. 259.

Chú thích của BBT Trang tin điện tử Bảo tàng

(*) Hiện nội dung các văn khắc này đã được dịch, có thể đọc thêm trong tài liệu Arlo Griffiths, Amandine Lepoutre, William A. Southworth và Thành Phần, Văn khắc Chămpa tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm – Đà Nẵng, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2012, tr. 99 – 100

(**) BBT nhận định vị trí tác giả nhắc đến là vùng xương quai xanh của bức tượng.

Tin cùng chuyên mục

 
 
Loading the player...
 
Đà Nẵng, Việt Nam

 
 
 
Giờ tham quan
Từ 7 giờ đến 17 giờ hàng ngày
Giá vé
60.000 đồng/người/01 lượt tham quan
Địa chỉ
số 02, đường 2 tháng 9, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam
 
Lượt truy cập: 127,646 Hôm qua: 353 - Hôm nay: 95 Tuần trước: 2,455 - Tuần này: 1,151 Tháng trước: 14,580 - Tháng này: 8,990 Đang trực tuyến: 15