Lễ hội Katé – Nơi bảo tồn và phát huy các di sản của nền văn hóa Chăm (phần 1)

Ngày đăng: 14/10/2020

Katé, lễ hội lớn nhất trong năm của người Chăm, thường được tổ chức vào đầu tháng 7 Chăm lịch (khoảng tháng 10 dương lịch). Lễ hội này diễn ra nhằm tưởng nhớ, cúng tế các vị thần (tại các đền, tháp) và dâng lễ cho ông bà tổ tiên đã khuất (tại tư gia). Giá trị nổi bật của lễ hội Katé, so với các lễ hội khác của người Chăm; chính là ở các giá trị, di sản văn hóa của người Chăm được phô bày, phô diễn trong lễ hội này như các di tích đền, tháp có lịch sử lâu đời; các tác phẩm văn học dân gian mang tính thần thoại; các nhạc cụ và các loại hình diễn xướng ca – múa nhạc truyền thống…

Các di sản đền, tháp nơi tổ chức lễ hội Katé

Nói đến lễ hội Katé mà không nói đến các công trình kiến trúc tâm linh của người Chăm như các đền, tháp quả thật là một thiếu sót. Bản thân những công trình này đã là một giá trị đặc sắc nổi bật của văn minh Champa (trước đây) và văn hóa Chăm (ngày nay). Ngay từ khi mới tiếp cận và nghiên cứu Champa, các nhà nghiên cứu người Pháp đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu các tháp Champa, sau đó số lượng những nghiên cứu liên quan đến kiến trúc đền, tháp cũng chiếm vị trí quan trọng trong nghiên cứu về Champa và Chăm nói chung.1

Các đền, tháp được xây dựng để phục vụ nhu cầu tâm linh, nhưng nó cũng là nơi hội tụ các giá trị của nền nghệ thuật Champa, đó là nơi mà thành tựu kiến trúc và điêu khắc đỉnh cao của người Chăm xưa được ghi nhận. Với những giá trị ấy, các đền tháp Champa không chỉ nhận được thu hút sự nghiên cứu mà còn được Nhà nước quan tâm, bảo tồn và phát huy trở thành những di sản không chỉ là của quốc gia mà còn của cả nhân loại. Hầu hết các đền, tháp Champa còn tồn tại ngày nay đều được Nhà nước công nhận là di tích quốc gia hay di tích quốc gia đặc biệt, trong đó nổi bật hơn cả là quần thể kiến trúc di tích Mỹ Sơn, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Ngày nay, lễ hội Katé chỉ còn được diễn ra tại một số đền, tháp ở hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận. Trong đó ở Ninh Thuận còn có hai ngôi tháp mà hằng năm diễn ra lễ hội Katé là tháp Po Kloang Garai có niên đại khoảng thế kỷ XIII (Phan Rang – Tháp Chàm) và tháp Po Rame được xây khoảng thể kỷ XVII (Hậu Sanh, Ninh Phước). Riêng tại Bình Thuận, lễ Katé hằng năm vẫn được tổ chức trên tháp Po Sah Inư (Phố Hài) có niên đại khoảng thế kỷ XI. Bên trong Kalan (tháp chính) của các tháp này thường có tượng những vị vua (mukhalinga) hoặc biểu tượng linga – yoni là những vật thiên để thực hiện các nghi thức chính (lễ tắm tượng, mặc y trang…) trong toàn bộ diễn trình lễ hội Katé.

Ngoài các tháp Chăm, các đền, miếu cũng là những nơi thờ tự và thực hiện các nghi thức tâm linh của người Chăm, trong đó có lễ hội Katé. Các đền, miếu của người Chăm hầu như được xây mới vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX; có kiến trúc và bố cục tương tự các đình làng của người Kinh, gồm có mái ngói, nóc đền có hình lưỡng long chầu nguyệt, tiền đường, hậu đường… Các đền này thường được xây ở đầu làng, gò ruộng, có đồng lúa bao quanh, không gian linh thiêng bên trong đền thường đặt các tượng tạc chân dung các thần như đền Po Inư Nagar ở làng Hữu Đức (Ninh Phước, Ninh Thuận), đền Po Nit ở Bình Hiếu (Bắc Bình, Bình Thuận)…; hoặc thờ bằng các phiến đá trơn tru như đền thờ Po Riyak ở Mỹ Nghiệp (Ninh Phước, Ninh Thuận), Po Inư Nagar Hamu Kut ở Bĩnh Nghĩa (Thuận Bắc, Ninh Thuận)…2  Trong số các đền thờ này, nhiều đền như Po Nit đã được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.

Các công trình đền, tháp của người Chăm là một di sản vật chất vô cùng quý giá của người Chăm, đây chính là không gian để tổ chức phần lớn các lễ hội mang tính tâm linh của người Chăm, trong đó lễ hội Katé là một lễ hội quan trọng nhất gắn liền với các không gian linh thiêng này. Các di tích, hay các không gian diễn ra lễ hội là một phần tối quan trọng của bất kỳ lễ hội nào, chính vì tầm quan trọng này mà một số nhà nghiên cứu còn cho rằng lễ hội bao gồm ba phần: Lễ; Hội; và Di tích.3 Bản thân các đền tháp đã là những di sản văn hóa đặc sắc, lễ hội Katé lại diễn ra đồng thời ở hầu hết các đền, tháp của người Chăm, vì vậy, nó càng thêm có ý nghĩa và giá trị.

Lễ hội Katé – nơi lưu giữ và diễn xướng văn học dân gian

Gắn liền với mỗi lễ hội dân gian Chăm là các bài thánh ca, các huyền thoại (tiếng Chăm gọi là damnây), ghi nhận tiểu sử, ca ngợi công đức các vị thần linh được cầu cúng trong lễ hội, mà lễ hội Katé cũng không ngoại lệ. Theo thống kê của Văn Món (Sakaya) trong các lễ hội của người Chăm có khoảng 75 bài hát lễ về các vị thần, hầu hết trong số này là các huyền thoại, truyền thuyết lịch sử, tồn tại dưới các hình thức chính là: văn xuôi và văn vần (thơ).4

Bản thân các bài hát lễ này là một dạng thức của văn học Chăm, gồm các damnưi (thần thoại, truyền thuyết), dalikal (truyện cổ tích)5 nhưng khi được sử dụng trong các lễ hội Chăm nó được nâng lên một tầm cao mới là các bài thánh ca, thường được gắn liền với các hình thức hát kể, mang nhiều yếu tố trình diễn, tương tự như khi người bản địa Tây Nguyên hát kể sử thi. Hơn thế, khi hát xướng các bài hát lễ này, các nghệ nhân ngoài hát ra còn sử dụng các nhạc cụ phụ trợ hay thực hiện những điệu múa tâm linh (phân biệt với múa nghệ thuật) để biểu diễn và tái hiện hình ảnh các vị thần tương tự như các tập tục: hầu đồng, hầu bóng, múa bóng, hát chầu văn của người Kinh,…  Đến đây, sự kết hợp giữa văn học thần thoại và những yếu tố trình diễn trong nghi lễ làm cho lễ hội trở thành một không gian diễn xướng nghệ thuật dân gian.

Lễ hội Katé với chức năng dâng cúng, cầu nguyện và tạ ơn thần linh, nhất là những vị thần có công sáng thế (Po Inư Nagar), có công dẫn thủy nhập điền, chống giặc ngoại xâm (Po Kloang Garai, Po Rame…). Mỗi vị thần như vậy lại gắn liền với một huyền tích, một truyền thuyết khác nhau, trong đó kể lại xuất thân của các vị thần, công lao mà họ đóng góp cho quốc gia, dân tộc để rồi được thần thánh hóa, được dân gian thờ phụng. Khi thực hiện các nghi thức của lễ hội Katé, thầy Kadhar (thầy hát lễ kéo đàn Rabap - đàn nhị của người Chăm) và đồng thời hát kể các bài hát lễ liên quan đến từng vị thần được dâng lễ xuyên suốt diễn trình lễ hội.

Trong số đó, bài hát về thần Po Inư Nagar có đoạn: “…Thần là nữ thần xứ sở vĩ đại/ thần sinh ra đất nước con người/ thần mẹ cho trần gian cuộc sống/ thần cho cây cối tốt tươi còn người nảy nở/ thần mẹ sinh ra cây lúa, đất đai, ruộng vườn…”. Hát về thần Po Kloang Garai: “…Ngài Po Klaong dựng lên tảng đá/ đem ngăn sông, đắp đập giữa núi/ dân làng phủ phục, tôn vinh ngài làm vua, xây tháp, tạc tượng thờ thần Po kloang Garai…”. Còn bài hát về thần Po Rame có đoạn: “…Nước tràn về đập vỡ ra / Po Rame hiện về đắp đập giữ nước/ thần Po Rame dẫn nước vào ruộng/ con dân đón nước về làm ruộng…”.6 Còn nhiều, và còn nhiều bài hát kể nữa về các vị thần được vang lên tuần tự trong suốt diễn trình của lễ hội.

Những bài hát lễ trong lễ hội Katé, cũng như trong nhiều lễ hội khác, là những áng văn chương tuyệt vời trong kho tàng văn học dân gian Chăm. Đồng thời sự kết hợp của những bài thánh ca này với nghệ thuật hát kể theo nhịp điệu của thầy Kadhar và phần phụ họa của cây đàn Rabap còn biến lễ hội Katé thành lễ thức chứa đựng các yếu tố diễn xướng văn hóa đặc sắc. Với ý nghĩa đó, lễ hội Katé không chỉ là nơi phát huy các giá trị của di sản văn hóa vật thể mà còn là nơi lưu giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn học và diễn xướng nghệ thuật trong nền văn hóa Chăm.

Xem tiếp phần 2 tại ĐÂY

Đổng Thành Danh

Chú thích

1 Có thể kể đến một vài công trình về đền, tháp Chăm như: H. Parmentier, Inventaire descriptif des monuments Cam de L’Annam, Paris, 1909; Ngô Văn Doanh, Tháp cổ Champa: Huyền thoại và sự thật, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1994.

2 Sakaya, Lễ hội của người Chăm, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2003, tr. 170 -171.

3 Như trên, tr. 169.

4 Văn Món, “Đặc trưng bài hát lễ Chăm trong lễ hội dân gian thông qua thư tịch cổ”, Tạp chí Nguồn sáng Dân gian, Hội Văn nghê Dân gian, số 2/2002, tr. 28 – 32. 

5 Inrasara, Văn học Chăm khái luận, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2011, tr. 45 – 54. 

6 Sakaya, Lễ hội của người Chăm, sđd, tr. 142 – 144.

Tài liệu tham khảo

1. Ngô Văn Doanh, Tháp cổ Champa: Huyền thoại và sự thật, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1994.

2. Đình Hy – Trượng Tốn, Nhạc cụ truyền thống của người Chăm, Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Ninh Thuận, 1996.

3. Inrasara, Văn học Chăm khái luận, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2011. 

4. Văn Món, “Đặc trưng bài hát lễ Chăm trong lễ hội dân gian thông qua thư tịch cổ”, Tạp chí Nguồn sáng Dân gian, Hội Văn nghê Dân gian, số 2/2002. 

5. Trương Văn Món – Thông Thanh Khánh (Đồng chủ biên), Nghệ thuật ca múa nhạc người Chăm, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014.

6. Parmentier. H, Inventaire descriptif des monuments Cam de L’Annam, Paris, 1909.

7. Sakaya, Lễ hội của người Chăm, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2003.

8. Sakaya, Tiếp cận một số vấn đề văn hóa Champa, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2013.


Bài đã đăng tại địa chỉ: https://chamblogger.wordpress.com/2020/10/06/le-hoi-kate-noi-bao-ton-va-phat-huy-cac-di-san-cua-nen-van-hoa-cham/

Tin cùng chuyên mục

 
 
Loading the player...
 
Đà Nẵng, Việt Nam

 
 
 
Giờ tham quan
Từ 7 giờ đến 17 giờ hàng ngày
Giá vé
60.000 đồng/người/01 lượt tham quan
Địa chỉ
số 02, đường 2 tháng 9, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam
 
Lượt truy cập: 112,640 Hôm qua: 224 - Hôm nay: 23 Tuần trước: 2,466 - Tuần này: 1,090 Tháng trước: 11,389 - Tháng này: 10,062 Đang trực tuyến: 4